​Giai đoạn 2016-2020, mặc dù sản xuất nông nghiệp đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức do ảnh hưởng về thiên tai, dịch bệnh, biến động thị trường, nhất là khủng hoảng thừa thịt heo và giải cứu chuối năm 2017, dịch tả lợn Châu phi năm 2019, ảnh hưởng dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp Covid-19 năm 2020. Nhưng được sự quan tâm chỉ đạo sâu sát, kịp thời của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh, sự hỗ trợ phối hợp chặt chẽ, đồng bộ của các sở, ban, ngành, địa phương, đặc biệt là sự tham gia đóng góp tích cực của các thành phần kinh tế do đó ngành nông nghiệp tỉnh nhà tiếp tục đạt được những kết quả tích cực, các chỉ tiêu chủ yếu của ngành hàng năm và giai đoạn đều đạt và vượt so với mục tiêu đề ra, như: – Giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản năm 2020 ước đạt 60,68 ngàn tỷ đồng, tốc độ tăng bình quân giai đoạn 2016 – 2020 đạt 3,6%/năm; – Cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng ngành có giá trị kinh tế cao, trong giai đoạn 2016 – 2020 tăng tỷ trọng chăn nuôi từ 42,64% lên 46,64%, giảm tỷ trọng trồng trọt từ 39% xuống còn 36,05%; gía trị sản phẩm thu hoạch trên một ha trồng trọt và nuôi trồng thủy sản đạt khoảng 132 triệu đồng/ha/năm, nếu tính cả chăn nuôi đạt trên 230 triệu đồng/ha – Các hình thức tổ chức sản xuất tiếp tục phát triển. Đến nay toàn tỉnh có 166 HTX; 1.169 CLB-THT; 1.722 trang trại; hình thành 132 chuỗi liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ nông sản – Công nghiệp chế biến nông sản tập trung vào các ngành hàng có lợi thế của tỉnh như cây ăn trái, cây công nghiệp, đồ gỗ. Hiện toàn tỉnh có trên 200 cơ sở quy mô công nghiệp gắn với xuất khẩu và hơn 3.000 cơ sở chế biến nông sản nhỏ, lẻ, hộ gia đình. Trong đó, lĩnh vực chế biến gỗ đạt được những kết quả hết sức quan trọng, đây là lĩnh vực có kim ngạch xuất khẩu cao thuộc tốp đầu cả nước, đạt 1.514 triệu USD năm 2019 và đạt 1.308,5 triệu USD trong 10 tháng đầu năm 2020, tăng 6,75% so cùng kỳ. – Các sản phẩm cây, con chủ lực có giá trị kinh tế cao được sắp xếp và hình thành các vùng sản xuất tập trung, như: Vùng cây trồng chủ lực với quy mô trên 50.000 ha; 11 vùng nuôi thủy sản đạt tiêu chuẩn VietGAP với tổng diện tích 144 ha; Chăn nuôi phát triển theo hướng trang trại quy mô lớn, hiện chăn nuôi trang trại đạt trên 90%. – Công tác chuyển giao ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất được tập trung triển khai thực hiện: Toàn tỉnh có hơn 59.000 ha cây trồng áp dụng công nghệ tưới tiết kiệm; 600 ha cây trồng các loại, 277 trang trại chăn nuôi được chứng nhận VietGAP; 18 sản phẩm được cấp nhãn hiệu hàng hóa và 02 sản phẩm đã xây dựng chỉ dẫn địa lý; xây dựng được 97 mã số vùng trồng với quy mô hơn 22.000 ha phục vụ xuất khẩu, trong đó có một số thị trường khó tính như Mỹ, Úc, Nhật Bản; .. – Các mục tiêu về cấu lại ngành nông nghiệp đều đạt và vượt chỉ tiêu được giao, như: Tỷ lệ sản phẩm NLTS sản xuất dưới hình thức liên kết đạt 40,85%, theo quy trình sản xuất an toàn đạt 58,53%; gần 40% diện tích đất sản xuất được tưới tiết kiệm, 31 % diện tích rừng sản xuất được quản lý bền vững, 44,84% lao động nông thôn được đào tạo nghề nông nghiệp; … Những kết quả quan trọng Ngành nông nghiệp đã đạt được trong việc triển khai thực hiện kế hoạch 05 năm 2016 – 2020_hình 1.jpg Mô hình nuôi tôm ứng dụng công nghệ cao tại huyện Nhơn Trạch – Xây dựng nông thôn mới đã đạt được những thành tựu to lớn và toàn diện trên các mặt, khu vực nông thôn toàn tỉnh có sự đổi mới rõ nét.

    Đồng Nai về đích nông thôn mới trước 02 năm so vưới mục tiêu ban đầu tỉnh đặt ra. Đến nay toàn tỉnh có 35,5% (43/121 xã) tổng số xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao, 01 xã đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu. Dự ước đến cuối năm 2020 toàn tỉnh có 53 xã đạt chuẩn NTM nâng cao, 3 – 4 xã đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu. Vượt mục tiêu KH 5 năm của UBND tỉnh đề ra * Bên cạnh những kết quả đạt được, ngành nông nghiệp tỉnh Đồng Nai vẫn còn một số khó khăn, hạn chế, như: Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp có tăng nhưng chưa thực hiện sự ổn định và có xu hướng chững lại; Tuy đã hình thành các vùng sản xuất chuyên canh, tập trung đối với các loại sản phẩm chủ lực, nhưng nhìn chung chưa đáp ứng được yêu cầu cao cả về số lượng và chất lượng đối với thị trường xuất khẩu; sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp hữu cơ chưa nhiều, chưa đa dạng về chủng loại; Hiệu quả hoạt động của các HTXNN chưa cao; sự tham gia của doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp còn ít. * Định hướng và giải pháp phát triển Ngành nông nghiệp tỉnh Đồng Nai trong thời gian tới là: Tiếp tục cơ cấu lại nông nghiệp gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng và xây dựng nông thôn mới; tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị với 3 nhóm sản phẩm chủ lực (TW, tỉnh, đặc sản địa phương); khai thác tận dụng tốt lợi thế về phát triển nông nghiệp, xây dựng và phát triển vùng sản xuất hàng hóa tập trung, quy mô lớn đạt chất lượng cao đạt tiêu chuẩn, an toàn thực phẩm; kết nối nông nghiệp với công nghiệp chế biến sâu, bảo quản và thị trường, xuất khẩu theo chuỗi giá trị; tạo đột phá trong ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất để nâng cao giá trị gia tăng, phát triển bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu. Xây dựng nền nông nghiệp đô thị, nông nghiệp hữu cơ, kết hợp phát triển du lịch sinh thái, du lịch môi trường rừng, nông lâm kết hợp nhằm phù hợp với tiềm năng lợi thế của tỉnh. Với các nhóm giải pháp và nhiệm vụ trọng tâm sau: Thứ nhất, thường xuyên rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch đối với từng lĩnh vực, từng địa phương; xác định và lựa chọn những cây trồng vật nuôi có lợi thế, có thị trường, phù hợp với từng vùng, từng địa phương, phù hợp với biến đổi khí hậu để tiếp tục hình thành các vùng sản xuất tập trung với quy mô ngày càng lớn, hiện đại. Thứ hai, tiếp tục thực hiện tốt việc cụ thể hóa và thực hiện hiệu quả các cơ chế, chính sách của Trung ương, địa phương để khuyến khích, kêu gọi các doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nhất là nông nghiệp sạch, nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp công nghệ cao Thứ ba, tăng cường công tác chuyển giao ứng dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật vào sản xuất, trong đó đặc biệt chú trọng vấn đề: sử dụng giống có năng suất chất lượng cao; áp dụng đồng bộ cơ giới hóa trong sản xuất; xây dựng sản phẩm có thương hiệu, nhãn hiệu, truy suất nguồn gốc để nâng cao năng lực cạnh trạnh và mở rộng thị trường tiêu thụ. Thứ ba, phát triển các hình thức tổ chức sản xuất; đẩy mạnh việc mời gọi doanh nghiệp tham gia chuỗi liên kết, đặc biệt là doanh nghiệp chế biến sâu nông sản. Thứ năm, làm tốt công tác thông tin thị trường, dự báo ngắn và dài hạn về xu hướng thị trường trong nước và trên thế giới để người dân chủ động điều chỉnh quy mô sản xuất, cân đối cung cầu; vận dụng và phát huy hiệu quả các cơ hội đến từ Hiệp định thương mại, để hạn chế tối đa các thách thức và để tối ưu hóa lợi ích mà Hiệp định mang lại; Thứ sáu, Khai thác và phát triển các loại hình du lịch gắn với nông lâm nghiệp bền vững như du lịch sinh thái, mô hình du lịch trải nghiệm hoạt động sản xuất nông nghiệp cùng với nông dân… Thế Hiệp 

    Nguồn: sonongnghiep.dongnai.gov.vn


    Bản đồ

    bản đồ